qh2007xsnv
Chào mừng bạn đến với Qh2007xsnv. Hãy đăng ký thành viên để có thể tham gia thảo luận và nhận nhiều niềm vui và bổ ích từ điễn đàn. Đừng quên đăng nhập mỗi lần truy cập diễn đàn để trò chuyện được nhiều hơn. Một năm học mới đã khởi động rồi. Hãy nỗ lực và cố gắng hết mình để đạt được những thành tích cao nhất nhé. Cùng đoàn kết để vượt qua tất cả

qh2007xsnv

DIỄN ĐÀN LỚP SƯ PHẠM NGỮ VĂN K52 - 2007 - 2011 TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  Trang giải tríTrang giải trí  CalendarCalendar  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thông tin updateThông tin update  Học tậpHọc tập  Giải tríGiải trí  Sáng tác văn họcSáng tác văn học  Quà tặng âm nhạcQuà tặng âm nhạc  Gửi lời yêu thươngGửi lời yêu thương  Góp ý diễn đànGóp ý diễn đàn  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Một năm học mới lại bắt đầu khởi động rồi. Năm học cuối cùng trước khi bước ra cảnh cửa đại học. Hãy cố gắng và nỗ lực hết mình để có được những kết cả tốt nhất. Cùng đoàn kết, hòa nhập và thành công nhé!
Mỗi một bài viết, một comment của các bạn sau khi đọc một bài viết là bạn đã góp phần giúp chúng ta hiểu bạn hơn và bạn cũng đang góp phần cho sự lớn mạnh của forum lớp. Every of your comments and writtings helps us know you more and contributes to the existence and development of this forum. This year wll be the year we'll update many useful informations. Thank you! Diễn đàn đang và sẽ cập nhật các topic khác nhau trên nhiều lĩnh vực và hướng về giải trí nhiều hơn bên cạnh góc học tập, hy vọng các bạn tham gia tích cực để có được nhiều điều bổ ích hơn từ diễn đàn.
Hoan nghênh các bạn post bài mới lên diễn đàn và tham gia thảo luận trong các topic. Hãy biến diễn đàn thành cuốn nhật ký viết chung của chúng ta nhé! Chúc các bạn vui vẻ! Cố lên! Mày phải khác chứ. Không thể cứ như hiện tại được. 1 năm ko phải là dài. Thời gian ko đợi con người. Đừng lãng phí thứ quí giá đó cho những việc vô ích. Cố lên! Try your best!!! - Nguyễn Chín các ấy sướng thật, một năm nữa là được lên bục giảng. Tớ thì không biết đến bao giờ đây... cố lên nhé!! - Hieupm, đi học mà cứ nghỉ hoài, đảo lịch lung tung, cái này gọi là thất bát đầu năm...chán! - lan nguyễn
Hãy đăng nhập và tha hồ trò chuyện với các thành viên khác tại chatbox nhé!
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Similar topics
November 2017
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
27282930   
CalendarCalendar
Latest topics
» Lời nhắn cho tương lai
Tue May 17, 2011 12:49 pm by

» Sự nhầm lẫn trong ngày 8 - 3
Sun Feb 20, 2011 1:40 pm by

» Tân Thiếu Lâm Tự - Shaolin 2011 xem phim online dowload miễn phí
Fri Feb 18, 2011 9:41 am by

» Cô Nhi Họ Triệu - Sacrifice - Triệu Thị Cô Nhi 2010 xem phim online dowload miễn phí
Fri Feb 18, 2011 9:39 am by

» Ma Hiệp Truyền Kỳ Đường Cát Khả Đức - Don Quixote xem phim online dowload
Fri Feb 18, 2011 9:36 am by

» Clip và bản dịch bài thơ ‘Đợi Anh Về’
Thu Dec 23, 2010 9:00 pm by

» Chết như thế nào...?
Thu Dec 23, 2010 1:04 pm by

» Món quà của các đạo sĩ
Sun Dec 19, 2010 9:35 pm by

» Sinh viên năm cuối
Sun Dec 19, 2010 8:05 pm by

» Những từ chỉ “người bạn” trong Tiếng Anh
Wed Dec 08, 2010 6:02 pm by

» Three Wishes
Wed Dec 01, 2010 7:08 pm by

» Vì nó là bạn cháu
Sun Nov 28, 2010 10:01 pm by

» Có phải là tính hiếu học?
Thu Nov 25, 2010 10:42 pm by

» Nhà giáo dục
Thu Nov 25, 2010 10:39 pm by

» Những từ chỉ “người bạn” trong Tiếng Anh
Thu Nov 25, 2010 8:53 pm by

» ba người thầy vĩ đại
Tue Nov 02, 2010 9:02 pm by

» Sáng Thu
Fri Oct 29, 2010 10:03 am by

» truyện ma halloween
Thu Oct 28, 2010 10:28 pm by

» Bao giờ cải cách giáo dục hết là lời hứa suông?
Wed Oct 27, 2010 9:05 pm by

» Sinh viên thực tập: Bên trọng bên khinh
Sun Oct 24, 2010 9:07 am by

Truyện cười
QH2007XSNV.COOLBB.NET

Share | 
 

 ÂM NHẠC TRONG THƠ TƯỢNG TRƯNG Edgar Allan Poe THÔNG QUA BÀI THƠ “CON QUẠ” -

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Shaqi
Tổng giám đốc
Tổng giám đốc
avatar

Tổng số bài gửi : 181
Điểm số của bạn : 14754
Danh tiếng : 0
Join date : 23/03/2010
Age : 28

Bài gửiTiêu đề: ÂM NHẠC TRONG THƠ TƯỢNG TRƯNG Edgar Allan Poe THÔNG QUA BÀI THƠ “CON QUẠ” -   Sun Apr 11, 2010 6:17 pm

ÂM NHẠC TRONG THƠ TƯỢNG TRƯNG Edgar Allan Poe THÔNG QUA BÀI THƠ “CON QUẠ” -
1. Đặc điểm âm nhạc trong thơ tượng trưng, siêu thực
Chủ nghĩa tượng trưng, một trào lưu nghệ thuật và là một quan điểm triết học - mỹ học xuất hiện ở phương Tây cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, bao gồm nhiều hiện tượng văn học - nghệ thuật như: thơ, kịch, tiểu thuyết, hội hoạ … Hiểu theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa tượng trưng nảy sinh như một khuynh hướng văn học ở Pháp được khởi xướng bởi các nhà thơ nổi tiếng: Baudelaire, Verlaine, Rimbaud, Mallarmé.
Chủ nghĩa tượng trưng quan niệm nghệ thuật không phải phản ánh thế giới thực tại, thế giới của hiện tượng mà là một thế giới siêu tưởng, một thế giới mơ hồ của sự tương hợp giữa ánh sáng, sắc màu, âm thanh, mùi hương và nhạc điệu. Chủ thể tiếp nhận thơ tượng trưng cùng một lúc có thể cảm ứng tổng hòa thế giới âm thanh, sắc màu, mùi hương bằng tất cả các giác quan tương ứng. Các nhà tượng trưng xem thế giới hữu hình chỉ là hình ảnh, là cái bóng, là biểu trưng cho một thế giới mà ta không thấy được. Họ quan niệm chính cái không nhìn thấy đó mới là bản thể của thế giới. Nhà thơ nhận thức thế giới bằng trực giác, bởi chỉ có trực giác mới nắm bắt được cái đằng sau, vô hình, mới ứng cảm được thế giới đích thực mà ta không nhìn thấy. Sự tương ứng các giác quan tạo nên hiệu ứng lan tỏa, đan xen nhiều tầng cảm xúc và thực sự đem lại cho thơ những cảm nhận mới lạ.Họ cho rằng, nghệ thuật, muốn phản ánh thế giới phải tìm ra những “hiện thực ẩn giấu” và thể hiện nó bằng các biểu trưng thẩm mỹ. Vì vậy, Thơ mới giờ đây đã có sự tích hợp, thăng hoa, từ nhiều yếu tố, nhiều trạng thái. Nhà thơ, cùng lúc, phân thân và hội tụ các năng lực cảm biến thế giới bên trong và thế giới bên ngoài để bừng tỉnh trong không gian, thời gian, trong tiềm thức, vô thức, trực giác, trực cảm, trong ấn tượng, tượng trưng... để làm nên những “ niềm kinh dị ”, những vô nghĩa lý nhưng hợp lý, những khả giải và bất khả giải trong thơ.
Trong phạm vi bài tiểu luận này chúng tôi quan tâm đặc biệt tới tính nhạc trong thơ. Âm nhạc thơ tượng trưng là mới mẻ và độc đáo. Nó giúp thơ không rơi vào miêu tả, kể lể, hình thái của diễn từ, mà hướng đến tìm kiếm, gợi lên một thế giới vô hình trong tính thống nhất thâm u và sâu xa của nó. Khi nghiên cứu về thơ tượng trưng (symbolism), các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: cùng với yêu cầu về sự ám gợi (suggestion), sáng tạo hình ảnh biểu tượng (symbol)…, mẫu số chung của đặc điểm mĩ học thơ tượng trưng chủ nghĩa là nhạc tính (musicality), hay sự đề cao tinh thần âm nhạc . Trong “Nghệ thuật thơ” (Art poétique) Paul Verlaine viết:
De la musique avant toute chose
Et pour cela préfère l’impair
Plus vague et plus soluble dans l’air
Sans rien en lui qui pèse ou qui pose
(Âm nhạc trước mọi thứ. Và vì thế nên chọn thơ chân lẻ, mơ hồ và dễ tan hơn trong không, không có gì là nặng nề hoặc kênh kiệu ở trong đó). Ông hoàng của thơ tượng trưng còn khẳng định: “nhạc điệu, (thơ) luôn cần nhạc điệu” (De la musique encore et toujours!).
Vấn đề âm nhạc không phải là mới mẻ, bởi vì với thơ dù muốn hay không, âm nhạc vẫn là một phần phẩm chất có tính bản thể của nó. Những nhà văn cổ điển, những bộ óc lí trí nhất cũng đã từng phát biểu về điều này. La Fontaine, nhà thơ ngụ ngôn thế kỉ XVII nói “chẳng có thơ nào không có nhạc”, còn Voltaire, nhà văn và là nhà tư tưởng của thế kỉ “người ta dùng đầu để đi” thì cho rằng “thơ là hùng biện du dương”. Théodore de Banville (1823-1891) đi gần với quan niệm hiện đại hơn: “thơ vừa là nhạc, là hoạ, là tạc tượng, là hùng biện, thơ phải làm vui tai thích trí, tỏ rõ được âm thanh, bắt chước màu sắc, khiến cho trông thấy mọi vật và kích thích ta những rung động… Thơ là nghệ thuật hoàn hảo, cần thiết và bao hàm các nghệ thuật khác” [14, tr.353]….
Tuy nhiên, âm nhạc trong thơ cổ điển, thơ lãng mạn (và cả thơ dân gian) có ít nhiều sự khác biệt so với thơ tượng trưng. Ở các hình thức thơ này, tuy các yếu tố âm điệu, vần điệu, giai điệu rất được chú trọng, nhưng chủ yếu gắn với chức năng mô phỏng sự vật, các trạng thái cảm xúc của nghệ sĩ và mĩ lệ hóa cách diễn đạt. Nhìn chung, do gắn với mục đích trình bày cảm xúc, âm nhạc trong thơ trước thời đại tượng trưng chủ yếu mang ý nghĩa tu từ học. Trong khi đó, với thơ tuợng trưng, tu từ (rhetoric) không còn được coi là yếu tố quan trọng. Thơ tượng trưng không lấy trình bày cảm xúc làm mục đích chính, mà điều quan trọng là nhận thức và diễn đạt thế giới. Do vậy, âm nhạc trong thơ tượng trưng một mặt gắn với mục đích đưa thơ ca vượt ra khỏi hình thái của diễn từ, mặt khác và quan trọng hơn là, âm nhạc phải được nâng lên thành biểu tượng (biểu tượng thính giác) để làm nổi lên một thế giới không nhìn thấy, trinh nguyên, vô hạn đằng sau bề mặt sự vật - lĩnh vực mà ngôn từ logic và tư duy duy lí bất lực.
Tinh thần âm nhạc của thơ tượng trưng liên hệ sâu xa với tư tưởng triết học và mĩ học Schopenhauer (1788 - 1860). Sau Kant, Schopenhauer là một trong những triết gia có ảnh hưởng mạnh nhất đến nhiều thế hệ văn học thế kỉ XIX (và còn liên hệ đến chủ nghĩa hiện đại thế kỉ XX). Về mặt mĩ học, nếu Kant là người đưa ra quan niệm mĩ cảm (cái đẹp) không đến từ bản thân vật thể mà từ mô hình (pattern) hay biểu tượng (symbol) chúng ta có về nó, cái đẹp có tính vô vị lợi, không thuộc cảm giác thường nghiệm mà là cảm giác siêu nghiệm, thì quan tâm nghệ thuật của Schopenhauer lại dựa trên quan niệm triết học của ông ở một khiá cạnh khác. Hầu như trong toàn bộ triết học của mình Schopenhauer tập trung vào việc khám phá động lực sâu xa chi phối sự vận hành của thế giới. Trong “Thế giới như là ý chí và sự biểu hiện” (The world as Will and Representation) viết năn 1818, ông cho rằng thế giới là một thể thống nhất, ở đó tiểu vũ trụ (con người) và đại vũ trụ (thiên nhiên) có sự hòa hợp và được vận hành bởi ý chí siêu hình mà ông gọi là “ý chí sống” (will to live) và coi đó là bản chất sâu xa nhất của thế giới và đời sống con người. Khác với Hegel, Schopenhauer cho rằng ý thức đi liền với khái niệm chỉ có thể lĩnh hội được thế giới trong tính rời rạc của nó chứ không giải thích được tính thống nhất, liên tục. Theo ông, ý chí là nguồn cao nhất và cuối cùng của sự tồn tại, nó không phụ thuộc lí trí, ý chí tự nó là vô hạn và vĩnh cửu, chính nó qui định tính liên tục của mọi sự tiến hoá. Đi từ quan niệm ấy, về nghệ thuật Schopenhauer quan tâm tới âm nhạc; và chính quan niệm của ông đã chi phối một cách căn bản đời sống và sáng tạo của thiên tài âm nhạc Đức Richard Wagner (1813 - 1883), và sau đó gián tiếp ảnh hưởng đến các nhà thơ tượng trưng như Charles Baudelaire, Stéphale Mallarmé, Arthur Rimbaud, Paul Verlaine, Maeterlinck, Paul Valéry, Paul Claudel …. Âm nhạc, đối với ông đó là sự biểu hiện trực tiếp của bản thể sự vật, là tiếng nói của ý chí siêu hình. Ông trình bày rõ quan niệm này trong “Thế giới như là ý chí và sự biểu hiện” rằng: “Khi âm nhạc phù hợp với bất kì cảnh tượng, hành động, sự kiện hoặc môi trường nào, nó dường như phơi bày với chúng ta ý nghĩa bí mật nhất của nó (tức sự vật)” [10, p.3 of 4]. Không phải ngẫu nhiên, trong sự phân loại nghệ thuật, Schopenhauer dành cho âm nhạc một vị trí riêng, đặc biệt. Trong khi nghệ thuật kiến trúc ở vị trí thấp nhất của sự biểu hiện khách quan của ý chí và bi kịch ở vị trí cao nhất nhờ khả năng thanh lọc (catharsis), âm nhạc một mình đứng tách ra ngoài các nghệ thuật ấy. Theo Schopenhauer, âm nhạc không phải nghệ thuật để trình bày tự nhiên.
Âm nhạc trở thành điều kiện cho những gì mà thơ tượng trưng khao khát . Baudelaire (1821-1867) với sự cảm nhận bằng giác quan (chủ yếu là thính giác và khứu giác) đã làm cho thế giới vô hình hiện ra, gần lại và liên kết với thế giới hữu hình trong sự thống nhất sâu xa, vô tận. “Tương hợp” (correspondences) là một bài thơ có ý nghiã tuyên ngôn cho thơ tượng trưng ở cả hai khiá cạnh nghệ thuật thơ và cái nhìn mới của ông về tính nhất thể của vũ trụ. Ở khổ thơ thứ 2 và 3 Baudelaire viết:
“Comme de longs échos qui de loin se confondent
Dans une ténébreuse et profonde unité,
Vast comme la nuit et comme la clarté,
Les parfums, les couleurs et les sons se répondent.

Il est des parfums frais comme des chairs d’enfants,
Doux comme les haubois, verts comme les prairies
- Et d’autres, corrompus, riches et triomphant…”
(Như những tiếng vọng dài phía xa hoà lẫn/ giữa cảnh bao trùm tăm tối thẳm sâu/ Mênh mông như đêm đen và như ánh sáng/ Hương thơm, sắc màu và âm thanh tương hợp với nhau/ Có những mùi hương tươi tắn như da thịt trẻ nhỏ/ Dịu dàng như tiếng kèn ô-boa, xanh rờn như đồng cỏ/ Và những mùi hương khác, đã biến chất, hân hoan, phong phú).
Baudelaire đã khai thác tối đa hiệu quả của âm thanh để diễn đạt sự thống nhất thầm kín, bí ẩn cuả vũ trụ. Ông tạo ra sự lặp đi lặp lại âm “on”, một âm giọng mũi trong tiếng Pháp, để tạo ra một sự hòa điệu. Sự kết hợp âm thanh ấy đã làm mờ đi ý nghiã phản ánh của đoạn thơ và gợi lên cái mênh mông, sự thống nhất sâu xa và thâm u của thế giới (ténébreuse et profonde unité). Để gợi lên cái vẻ đẹp nguyên sơ, Baudelaire còn kết hợp với các từ tạo ấn tượng cho giác quan như “frais” (trong “parfums frais”/ những mùi hương tươi tắn), “doux” (trong “doux comme les haubois/ dịu dàng như tiếng kèn ô-boa), “verts” (trong “verts comme les prairies”/ xanh rờn như đồng cỏ). Tất cả những sự kết hợp ấy đều tuân theo nguyên lí của nhạc tính để gợi lên một vũ trụ thống nhất, trong đó “hương thơm, màu sắc và âm thanh tương hợp với nhau” (les parfums, les couleurs et les sons se répondent).
Trong những thế hệ các nhà thơ tượng trưng (cả thế kỉ XIX và XX), Paul Verlaine là nhà thơ tiêu biểu nhất ở tính nhất quán giữa “tuyên ngôn” và thực tiễn sáng tác, trong tinh thần âm nhạc. Về mặt lí thuyết, ông là người cổ xuý cho yêu cầu này (“âm nhạc trước mọi thứ”, “nhạc điệu, (thơ) luôn cần nhạc điệu”). Về sáng tác, những tập thơ tiêu biểu của ông như “Những bài thơ sao Thổ” (poèmes saturniens, 1866) ,“Tình ca không lời” (romances sans paroles, 1874)… thực sự là những giai điệu của một tâm hồn ưa hướng nội để thoát ra khỏi sự vây bủa của những thù nghịch của đời sống. Bài “Khúc ca mùa thu” (Chanson d’automne) có thể được xem là bài thơ điển hình nhất cho nhạc tính của thơ ông:
“Les sanglots longs
Des violons
De l’automne
Blessent mon coeur
D’une langueur
Monotone….”
(Những tiếng khóc nức nở kéo dài/ (của) cây vĩ cầm/ (của) mùa thu/ làm trái tim tôi/ uể oải/ đơn điệu).
Đoạn thơ không khó hiểu. Tài năng Paul Verlaine không thể hiện ở chiều sâu của vấn đề được nói tới (như sự tương hợp trong thơ Baudelaire), hay ở “nghệ thuật cao siêu” (ảo giác và thấu thị ở Arthur Rimbaud, sự tự trị ngôn từ của Mallarmé), mà ở những hình ảnh âm thanh được tác giả sử dụng. Paul Verlaine vừa sử dụng dòng thơ ngắn, đứt quãng, vừa liên kết các từ gần âm (long, violon, automne, monotone) liền mạch với nhau, diễn đạt cảm xúc nức nở triền miên trong một giai điệu du dương tế nhị - sự hoà hợp của mùa thu thiên nhiên và trạng thái tâm hồn con người.
Paul Verlaine cũng là người ít ưa sự phức tạp trong diễn đạt. Ông thường nhấn mạnh hai điều: coi trọng cảm xúc cá nhân với ấn tượng nhất quán của bài thơ và xem chức năng thơ là gìn giữ những khoảnh khắc cảm xúc dâng lên cực điểm, lúc mà tâm trạng con người và ngoại giới dễ hoà hợp nhất (trong “Những khúc Ariettes bị bỏ quên” cũng có nét tương tự với “Khúc ca mùa thu” khi ông viết : “mưa rơi trong tim tôi / như mưa rơi trên đường phố”). Chỉ chừng ấy, nhưng với ki thuật tạo nhạc tính tuyệt vời, Verlaine vẫn được xem là hoàng tử của thơ tượng trưng, là một trong những nhà thơ có giọng thơ trong trẻo, độc đáo và lâu bền nhất của thơ ca Pháp.
Nhạc thơ tượng trưng có khía cạnh khác biệt: lúc biểu hiện màu sắc kĩ thuật, lúc nghiêng về mục đích diễn đạt những huyền diệu, bí ẩn của thế giới và tâm linh con người.
Chủ nghiã tượng trưng (symbolism) tự nó là một khái niệm mang màu sắc triết học. Đó là một thứ mĩ học - triết học, triết học vũ trụ. Âm nhạc thơ tượng trưng cũng đi theo tinh thần ấy. Đó là âm nhạc của sự mặc khải và thần cảm, nó mới và sâu sắc hơn nhưng cũng khó hiểu hơn.
2. Edgar Allan Poe - và quan niệm nghệ thuật trong chủ nghĩa tượng trưng
Edgar Allan Poe (1809 - 1849), một người miền Nam, đã chia sẻ với Melville cái nhìn siêu hình tăm tối trộn lẫn với những yếu tố của chủ nghĩa hiện thực, sự nhại hài hước và châm biếm. Ông đã gọt giũa thể loại truyện ngắn và sáng tạo ra tiểu thuyết trinh thám. Nhiều truyện ngắn của ông dự báo sự ra đời của tiểu thuyết khoa học giả tưởng, kinh dị và huyễn hoặc rất phổ biến ngày nay.
Cuộc đời ngắn ngủi và bi đát của Poe bị đọa đầy bởi nỗi bất an. Cũng như nhiều nhà văn hàng đầu của Mỹ thế kỷ 19, Poe mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Cuộc hôn nhân kỳ lạ của Poe vào năm 1835 với người em họ lớn nhất, cô Virginia Clemm, chưa đầy 14 tuổi, được giải thích như là một cố gắng tìm kiếm cuộc sống gia đình ổn định mà ông đang thiếu.
Poe tin rằng sự khác thường là thành tố thiết yếu của cái đẹp, và tác phẩm của ông thường quái lạ. Những câu chuyện và bài thơ của ông chen chúc những nhà quý tộc ưa tự vấn và bị đày đọa (Poe, cũng như những người miền Nam khác, ấp ủ một lý tưởng quý tộc). Những nhân vật buồn thảm này hình như không bao giờ làm việc hay tham gia cuộc sống xã hội; thay vì vậy họ tự giam mình trong những lâu đài mục nát, tăm tối, được bài trí một cách tượng trưng bằng những tấm thảm và màn cửa lạ lùng che giấu cái thế giới thật sự của mặt trời, cửa sổ, tường và sàn nhà. Những căn phòng bí mật phơi bày những thư viện cổ xưa, những tác phẩm nghệ thuật kỳ lạ và đồ cổ phương Đông được tuyển lựa. Những người quý tộc chơi nhạc hay đọc các sách cổ trong khi trăn trở dày vò về những tấn bi kịch, thường là cái chết của những người thân yêu. Chủ đề về cái chết-trong-khi-đang-sống, đặc biệt là bị chôn sống hoặc trở về từ nấm mồ như một con ma cà rồng, xuất hiện trong nhiều tác phẩm của ông, gồm The Premature Burial (Việc chôn cất vội vàng), “Ligeia”, The Cask of Amontillado (Thùng rượu của Amontillado), và The Fall of the House of Usher (Sự sụp đổ của gia đình Usher). Cái thế giới hỗn mang giữa sự sống và cái chết của Poe và những bối cảnh mang tính Gothic, màu mè, hào nhoáng của ông không chỉ thuần túy để làm phông trang trí. Chúng phản ánh đời sống nội tâm quá văn minh nhưng đượm màu chết chóc hoặc là tâm thần bấn loạn của những nhân vật của ông. Chúng là những biểu hiện tượng trưng của vô thức, và do vậy là trung tâm trong thi pháp của ông. Những câu chuyện của Poe - như đã dẫn trên đây - đã được mô tả như là những câu chuyện kinh dị. Những câu chuyện như The Gold Bug (Con bọ vàng) và The Purloined Letter (Lá thư bị đánh cắp), là những câu chuyện của suy lý hay biện luận. Những câu chuyện kinh dị của ông dự báo trước những tác phẩm của các tác giả chuyên viết truyện kinh dị Mỹ như H.P. Lovecraft và Stephen King, còn những truyện suy lý là những con chim báo hiệu của loại tiểu thuyết trinh thám của Dashiell Hammett, Raymond Chandler, Ross Macdonald, và John D. MacDonald. Cũng có một dấu hiệu về cái mà sau này xuất hiện với tên gọi là truyện khoa học giả tưởng. Tất cả những câu chuyện này bộc lộ niềm say mê của Poe với trí tuệ và kiến thức khoa học đang ngày càng có xu hướng thế tục hóa thế giới quan của nhân loại vào thế kỷ 19.
Trong mỗi thể loại, Poe cố khám phá đời sống nội tâm. Sự thấu hiểu tâm lý sâu sắc ánh lên trên mỗi trang sách. “Có ai không thấy mình hàng trăm lần phạm lỗi hay hành động một cách xuẩn ngốc, không vì một lý do nào khác hơn là anh ta biết điều đó không nên làm”, đó là một đoạn trong The Black Cat (Con mèo đen). Để khám phá lãnh vực lạ lùng và hấp dẫn của những quá trình tâm lý, Poe lục lọi trong đống tư liệu về người điên và những cảm xúc tột cùng. Phong cách viết tỉ mỉ một cách gian khổ và sự giải thích cặn kẽ trong các câu chuyện làm tăng thêm cảm giác kinh hãi bằng cách tạo nên những biến cố có vẻ như thật và hợp lý.
Sự kết hợp giữa yếu tố suy đồi và chủ nghĩa nguyên thủy lãng mạn ở Poe có một sức hấp dẫn mãnh liệt giới văn nghệ châu Âu, đặc biệt là những nhà thơ Pháp như Stéphane Mallarmé, Charles Baudelaire, Paul Valéry và Arthur Rimbaud. Poe vẫn mang bản sắc Mỹ, mặc cho sự căm ghét mang màu quý tộc của ông với nền dân chủ, mặc cho lòng ưa thích những gì lai căng xa lạ và những chủ đề về sự phi nhân của ông. Trái lại, ông hầu như là một trường hợp tiêu biểu cho lời dự đoán của Tocqueville rằng nền dân chủ Mỹ sẽ sản sinh những tác phẩm bóc trần cái phần sâu thẳm nhất, ẩn khuất nhất của tâm thức. Một sự âu lo sâu thẳm và một trạng thái tâm thần bất an dường như xuất hiện ở Mỹ sớm hơn ở châu Âu, bởi vì ít nhất thì những người dân Cựu lục địa cũng đã có một cơ cấu xã hội ổn định và phát triển cao mang lại cho họ sự an toàn về mặt tâm lý. Ở Mỹ, đã không có được một sự bảo đảm tương ứng, mỗi người sống cho chính mình. Poe đã mô tả chính xác phía bên dưới của giấc mơ Mỹ về con người tự lập thân và phơi bày cái giá của chủ nghĩa thực dụng và cuộc cạnh tranh tàn bạo - sự cô đơn, tha hóa, và những hình ảnh của cái chết-trong-lúc-đang-sống.
Chủ đề “Sự suy đồi” của Poe cũng phản ánh sự xuống dốc của những biểu tượng xuất hiện vào thế kỷ 19 - cái khuynh hướng pha trộn những vật phẩm nghệ thuật hỗn tạp từ nhiều thời đại và xứ sở khác nhau trong quá trình tước bỏ đi tính cách của chúng và giảm chúng xuống chỉ còn là những vật trang trí thuần túy trong bộ sưu tập. Mớ hỗn độn các bút pháp phát sinh từ đó đặc biệt đáng chú ý ở Mỹ, nơi thường thiếu những phong cách truyền thống của riêng mình. Sự hỗn độn ấy phản ánh sự mất mát những hệ thống tư tưởng nhất quán khi việc di cư, đô thị hóa, và công nghiệp hóa đã nhổ tận gốc nền tảng gia đình và lối sống truyền thống. Trong nghệ thuật, sự rối loạn những biểu tượng này làm tăng thêm tính quái dị, một ý tưởng mà Poe đã lấy làm chủ đề của mình trong tuyển tập truyện hàng đầu của ông, Tales of the Grotesque and Arabesque (Truyện kinh dị) (1840).
Trong phạm vi bài tiểu luận này chúng tôi chỉ xin được nhắc đến 1 Edgar Allan Poe là nhà thơ của chủ nghĩa tượng trưng. Thơ của Poe, cũng như thơ của nhiều tác giả miền Nam, đầy nhạc tính và tuân thủ âm vận nghiêm nhặt.
Tinh thần âm nhạc của thơ tượng trưng còn liên hệ sâu sắc với quan niệm nghệ thuật của Edgar Allan Poe (1809- 1849), người viết thơ lãng mạn và tượng trưng, truyện ngắn tưởng tượng nổi tiếng Mỹ. Những người say mê dịch các tác phẩm Edgar Allan Poe ra tiếng Pháp như Baudelaire, Mallarmé… đã chịu ảnh hưởng trực tiếp quan niệm nghệ thuật của tác giả này, qua đó ảnh hưởng của Poe lan rộng đến cả một thế hệ các nhà thơ Pháp cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX.
Poe là một tài năng đa dạng và độc đáo. Có thể nói về ông vơí nhiều vai khác nhau: nhà thơ, bậc thầy của truyện trinh thám (Detective stories) và truyện kinh dị (horror stories), người viết tiểu luận phê bình văn học. Trong toàn bộ sáng tác của mình, Poe luôn nhất quán với phương châm: đối với một tác phẩm nghệ thuật tốt điều quan trọng là phải tạo được ấn tượng mạnh ở người đọc thông qua khả năng gợi cảm của sự kiện, hình ảnh (đối với văn xuôi) và nhịp điệu (đối với thơ). Trong “Triết lí sáng tạo” (The philosophy of composition), ông viết: “ khi nói về cái đẹp, họ muốn nói về hiệu ứng chứ không phải chất lượng (khác) như thường nghĩ” [7, tr. 314] và “có hai điều luôn đòi hỏi: trước hết là sự sắp xếp, và thứ hai là sự khêu gợi, tất nhiên đó là sự khêu gợi ngầm, không xác định của nghĩa” [7, tr. 322]. Nhận ra sự nghèo nàn, khô khan của văn học Mỹ kéo dài từ thế kỉ thuộc địa (thế kỉ XVII) đến thế kỉ ánh sáng (thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX) với sự đề cao quá mức sự thực hành chức năng xã hội và văn học không hư cấu (non - fiction), Poe muốn làm một thay đổi mạnh mẽ thông qua việc đề cao cái đẹp, xem đó là địa hạt của thơ ca và sáng tạo nó là sứ mạng thiêng liêng của nghệ sĩ. “Cái đẹp là địa phận hợp pháp duy nhất của thơ ca… cái đẹp của bất cứ cái gì, khi khai triển đến độ tột cùng của nó, luôn kích thích tâm hồn đa cảm phải rơi lệ”(Beauty is the sole legitimate province of the poem… Beauty of whatever kind, in it’s supreme development, invariably excites the sensitive soul to tears) [7, tr. 314 - 315]. Để tạo được thứ thơ thuần khiết (pure poetry), Poe chủ trương thơ phải giàu nhạc tính, xem đó là yếu tố cốt lõi, và mỗi bài thơ phải là một bầu khí quyển mà trong đó cái đẹp ngự trị. Trong “Nguyên lí thơ” (The poetic principle), Poe rất có lí khi cho rằng: thi cảm của con người được thể hiện ở nhiều nghệ thuật khác nhau như hội họa, điêu khắc, kiến trúc, khiêu vũ, trong sự phối trí các khu vườn cảnh, nhưng đặc biệt trong âm nhạc. Bởi vì, âm nhạc giúp thơ cất cánh, mở ra những chân trời mới vô hạn cho tưởng tượng của nghệ sĩ: “trong sự kết hợp thơ với nhạc, trong ý nghĩa phổ biến, chúng ta có thể tìm thấy mảnh đất rộng rãi nhất cho sự phát triển của thơ” (In the union of poetry with music in it’s popular sense, we shall find the widest field for the poetic development) [7, tr. 330]. Giàu nhạc tính trở thành đặc điểm nổi bật nhất của thơ E.A. Poe. Những tác phẩm như “Mơ trong mơ” (A dream within a dream), “Mảnh đất thần tiên” (Fairyland), “Lễ hội tình yêu” (A Valentine), “Những tiếng chuông” (The bells), “Gửi mẹ” (To my mother)… là những bài thơ hay, mỗi bài là một bầu khí quyển tinh khiết, ở đó âm thanh hoà hợp với nhau, các cung bậc và giai điệu mê hoặc, lôi cuốn người đọc vào thế giới của những sự tưởng tượng kì diệu.
Có một thực tế: mặc dù Poe là người phát động, chủ trương một thứ thơ tinh khiết và nêu lên rằng nhạc tính phải là vấn đề có tính nguyên lí của thơ ca, muốn mở ra một thời đại mới cho thơ Mỹ, nhưng trong thế kỉ XIX Poe chưa được đón nhận một cách rộng rãi. Một số nhà thơ của phong trào siêu nghiệm (transcendentalism) như Waldo Ralph Emerson, David Thoreau, Theodore Parker có nhận ra thiên tài của Poe, nhưng bối cảnh văn học Mỹ lúc bấy giờ chưa đủ điều kiện sản sinh một thế hệ. Ngược lại, trong lúc đi tìm cho thơ con đường thoát ra khỏi áp lực của chủ nghĩa duy lí và tinh thần thực chứng luận cuối thế kỉ, các nhà thơ Pháp đã tìm thấy và áp dụng một cách hăng hái học thuyết của Poe và tính nhạc được tôn vinh với chủ nghiã tượng trưng. Thêm vào đó, niềm tin về một thế giới nhất thể và quan niệm bên dưới thế giới hữu hình là thế giới vô hình mà họ tiếp thu được từ thuyết Thần cảm (Illuminism) Đức thế kỉ XVIII đã khiến các nhà thơ tượng trưng càng ngày càng thể hiện sự tin cậy vào tính hữu hiệu của cái công cụ học được từ nhà thơ Mỹ trong mục đích nhận ra thế giới của những điều chưa biết.
3. Đặc điểm thơ tượng trưng trong thơ Edgar Allan Poe qua một số bài thơ tiêu biểu.
Có thể nói thơ Edgar Allan Poe là một thế giới âm thanh đa dạng nhiều cung bậc và đầy cảm xúc. Có thể nêu ví dụ một đoạn trong bài thơ “Những tiếng chuông” của ông:
Hear the sledges with the bells-
Silver bells
What a world of merriment their melody foretells!
How they tinkle, tinkle, tinkle,
In the icy air of night!

While the stars that oversprinkle
All the heavens, seem to twinkle-
With a crystalline delight…
(Những chiếc xe trượt tuyết với những cái chuông. Những cái chuông bằng bạc. Giai điệu của chúng báo tin một thế giới hân hoan! Những tiếng kêu leng keng không dứt trong màn đêm lạnh buốt. Trong khi đó những vì sao chi chít, tất cả bầu trời lấp lánh với niềm vui pha lê). Đó là một đêm giáng sinh tràn ngập niềm hân hoan. Nhưng nếu chỉ dừng ở sự miêu tả ấy, bài thơ không nói được nhiều hơn. Điều đáng kể ở đây chính là sự liên kết các từ thính giác và thị giác tạo thành một giai điệu bất tận, lan tỏa, diễn tả sự tương hợp xúc cảm giữa con người và vũ tru, và từ đó gợi lên một thế giới của sự viên mãn. Poe đã tạo nên “những tiếng chuông ngôn từ kì diệu”.
Tiếp đó chúng ta phải kể tới bài thơ Eldorado lần đầu tiên in ở tạp chí Flag of Our Union tháng 4 năm 1849. Trong tiếng Tây Ban Nha "El Dorado" có nghĩa là "dát vàng". Nguồn gốc của từ này xuất phát từ một tục lệ của một bộ tộc người da đỏ khi nhà vua mới lên ngôi họ đem cát vàng rắc lên người nhà vua. Từ đó sinh ra truyền thuyết về "người dát vàng El Dorado" mà những nhà thám hiểm Tây Ban Nha từng gặp đâu đó ở Nam Mỹ. Trên thực tế nó được bắt nguồn từ những lời kể của nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Francisco de Orellana về một vùng đất nằm giữa sông Amazon và hồ Parima ở Guyana. Một người Tây Ban Nha khác có tên là Martinez còn kể khắp châu Âu rằng ông ta từng sống 7 tháng ở thủ đô Manoa của vương quốc Eldorado này và mô tả tỉ mỉ về cung điện của nhà vua bằng vàng ròng, còn nhà vua cứ buổi sáng rửa hết vàng, buổi tối trước khi đi ngủ lại dát vàng lên người. Truyền thuyết này sau đó trở thành đề tài cho tin đồn về một xứ sở có rất nhiều vàng mà những người dân ở đó đem vàng dát lên người. Sau đấy, có rất nhiều đoàn thám hiểm (không chỉ của người Tây Ban Nha mà còn của người Anh) đi tìm vùng đất này. Cuộc thám hiểm quan trọng nhất do nhà thám hiểm người Anh Walter Raleigh thực hiện vào đầu thế kỷ XVII. Suốt gần 300 người ta đi tìm Eldorado mà không thấy. Tháng 1 năm 1848 người ta tìm thấy vàng ở California thì người đời cho đấy là "El Dorado". Bài thơ này của Edgar Allan Poe viết trong những ngày tháng được gọi là "Cơn sốt vàng" (California Gold Rush) đó, nhưng đề tài Eldorado tác giả hoàn toàn viết theo cách của mình.
Chàng hiệp sĩ suốt cả cuộc đời đi tìm miền đất xa lạ, mà có thể là không tồn tại trên đời, tất nhiên, không giống như những kẻ khát khao đi tìm vàng. Thành ra, bài thơ này viết về con người đi tìm cái tuyệt đối. Khổ thơ cuối, qua lời của chiếc bóng phiêu du, nói rằng “Eldorado” thật, không có ở cõi đời này mà ở bên kia thế giới.
Bài thơ là 4 khổ thơ mỗi khổ 6 dòng, Poe sử dụng thuật ngữ “hình bóng” trong giữa mỗi đoạn thơ. Ỹ nghĩa của từ thay đổi mỗi lần sử dụng. Đầu tiên nó là một bóng đen nơi mặt trời bị chặn lại (it is a literal shadow, where the sun is blocked out), lần xuất hiện sau nó lại ngụ ý là bóng tối và tuyệt vọng (gloom or despair), lần thứ 3 xuất hiện nó lại là một con ma (ghost). Việc sử dụng hình ảnh “Thung lũng của Shadow tham khảo hình ảnh “Shadow of Death” có lẽ gợi ý rằng Eldorado (hay riches nói chung) không tồn tại trong thế giới sống, Eldorado cũng có thể hiểu không phải như thế gian kim loại màu vàng, nhưng là kho báu mà thực sự có khả năng tồn tại trong nơi ở của tinh thần Những kho báu " tinh thần " chính là sản phẩm của tâm trí: kiến thức, sự hiểu biết, và tính khôn ngoan. Trong trường hợp này, Edgar Poe đã nghi ngờ “sự giàu có về tinh thần của loài người và thừa nhận sự trần tục không thể tránh khỏi của loài người”.
Với việc sử dụng nhạc điệu trong bài thơ “Con quạ” (the raven), Poe lại tạo ra một hiệu ứng khác. "The Raven" là một bài thơ tường thuật của nhà văn Mỹ Edgar Allan Poe, xuất bản lần đầu vào tháng Giêng 1845. Nó thường được chú ý với âm nhạc, ngôn ngữ cách điệu, và bầu không khí siêu nhiên. Nó nói tới một chuyến thăm huyền bí của con quạ biết nói tới một người yêu đang rối loạn tinh thần, truy tìm nguồn gốc sự điên cuồng của người đàn ông. Người yêu, thường xác định như là một sinh viên, đang than khóc sự mất mát của tình yêu của mình, Lenore. Ngồi trên một tượng bán thân của Pallas, con quạ có vẻ xa hơn nữa xúi giục sự đau khổ của anh ấy với sự lặp lại triền miên của từ " Không bao giờ nữa ". Bài thơ này sử dụng một số tài liệu tham khảo dân gian và cổ điển. Nguồn cảm hứng của raven trong tiểu thuyết 1841 của Charles Dickens, Barnaby Rudge, một cuốn tiểu thuyết lịch sử về cuộc bạo loạn chống Công giáo tại London năm 1780, trong đó một người tâm thần chậm (Barnaby) là sai bị buộc tội tham gia. Barnaby sở hữu một con quạ vật nuôi, Grip, có thể nói chuyện
Poe khẳng định đã viết bài thơ rất hợp lý và về phương pháp ông định tạo ra một bài thơ mà kêu gọi tới những vị giác của cả giới phê bình lẫn đại chúng như ông giải thích năm 1846 trong theo dõi tham luận " Triết học của thần " - "The Philosophy of Composition". Bài thơ này được lấy cảm hứng một phần bởi một con quạ nói chuyện trong cuốn tiểu thuyết Barnaby Rudge: Barnaby Rudge: A Tale of the Riots of 'Eighty tạm dịch là một truyện ngắn trong 80 ngày bạo loạn của Charles Dickens [3]. Poe vay mượn những nhịp điệu phức tạp và tiếng đồng hồ của bài thơ của Elizabeth Barrett "Sự ve vãn của quý bà Geraldine", và sự dụng vần điệu cũng như sự lặp âm ở khắp nơi trong bài thơ. Poe khẳng định đã viết bài thơ rất hợp lý và về phương pháp ông định tạo ra một bài thơ mà kêu gọi tới những vị giác của cả giới phê bình lẫn đại chúng như ông giải thích năm 1846 trong theo dõi tham luận " Triết học của thần " - "The Philosophy of Composition". Bài thơ này được lấy cảm hứng một phần bởi một con quạ nói chuyện trong cuốn tiểu thuyết Barnaby Rudge: Barnaby Rudge: A Tale of the Riots of 'Eighty tạm dịch là một truyện ngắn trong 80 ngày bạo loạn của Charles Dickens [3]. Poe vay mượn những nhịp điệu phức tạp và tiếng đồng hồ của bài thơ của Elizabeth Barrett "Sự ve vãn của quý bà Geraldine", và sự dụng vần điệu cũng như sự lặp âm ở khắp nơi trong bài thơ.
"The Raven" lần đầu tiên được đăng trên New York Evening Mirror (New York Gương buổi chiều) ngày 29 tháng 1 năm 1845. Bài thơ được phổ biến rộng rãi trong đời sống, mặc dù nó không mang lại cho ông nhiều thành công về tài chính [4] Chẳng bao lâu được in lại, được nhại lại, và được minh họa, quan điểm phê bình (thì) bị chia như tới bài thơ, bài thơ bị phê phán rất nhiều nhưng nó vẫn là một bài thơ nhất từng được viết.
Có người đã cho rằng ở bài thơ này Poe đã quá thiên về kĩ xảo ngôn từ, điều đó không sai. Nhưng vấn đề ở đây là kĩ xảo ngôn từ của Poe không tạo nên hình thức thuần túy (dù ông chủ trương thơ tinh khiết) mà diễn đạt một cách hiệu quả tối đa cảm xúc của nhà thơ. “Con quạ” là bài thơ dài, nói về tâm trạng cô đơn, buồn chán của Poe, gắn với nỗi đau của ông về cái chết của người vợ trẻ. Không phải ngẫu nhiên, trong toàn bộ tác phẩm Poe đã 6 lần nhắc lại từ “nothing more” (không còn gì nữa) và 11 lần từ “nevermore” (không bao giờ nữa) như những điệp khúc. Về kĩ thuật phối âm, Poe nói rằng ông đã chọn vần “or” vì điệp khúc “nothing more” và “nevermore” phù hợp với Leonorre - cái tên đã được chọn, chỉ thiên thần đã mất của ông. Làm thơ là “sáng tạo nhịp điệu của cái đẹp” (I would define, in brief, the poetry of words as the rhythmical creation of beauty) [7, tr. 331]. Những điệp khúc ấy đã làm thành giai điệu, nhấn mạnh tâm trạng trống vắng, nức nở trước mất mát không thể nào khỏa lấp được của tâm hồn. Giống như trong truyện ngắn của ông, Poe cẩn thận trong việc sử dụng ngôn từ để góp phần vào bầu không khí tổng thể và giai điệu của bài thơ. Các từ này bao gồm mệt mỏi, thê lương, ảm đạm, chết, phiền muộn, buồn, đêm tối, yên, bí ẩn, ebony, nghiêm trang, lạnh lùng, cô đơn, dữ tợn, tái mét, và hốc hác(hoang vu) (weary, dreary, bleak, dying, sorrow, sad, darkness, stillness, mystery, ebony, grave, stern, lonely, grim, ghastly, and gaunt).
Bài thơ được hoàn thành với 18 đoạn thơ và 6 câu mỗi dòng. Trong mỗi câu lại có 8 trọng âm về phía sau của mỗi từ, mỗi từ đều có sự nhấn mạnh âm tiết theo sau bằng 1 trọng âm cuối. Như dòng đầu tiên (với / đại diện cho âm tiết được nhấn mạnh và X đại diện cho trọng âm cuối)
Syllabic structure of a verse[5]

Stress (trọng âm; âm nhấn) / X / x / x / X / x / x / x / x
Syllable (
Âm tiết) Once up- On a mid- Night drear- y, While I pon- dered weak And wear- y
though its mesmeric quality overrides that.[24]
Edgar Allan Poe đòi hỏi bài thơ là sự kết hợp của các âm tiết như: octameter acatalectic, heptameter catalectic, và tetrameter. Sơ đồ vần thường là ABCBBB hoặc AA,B,CC,CB,B,B khi tính toán cách hiệp vần ở mỗi câu. Trong mỗi câu những dòng “B” hiệp vần với từ 'nevermore' và là một dòng của câu thơ mà thiếu 1 âm tiết cuối cùng. Bài thơ cũng xuất hiện rất nhiều hiện tượng lặp âm đầu như: “("Doubting, dreaming dreams...")
Cấu trúc bài thơ dựa trên nhịp điệu phức tạp của bài thơ: “sự ve vãn của quý bà Geraldine” Như là điển hình với Poe, đánh giá của ông cũng chỉ trích sự thiếu độc đáo của mình và những gì ông sẽ xem xét tính chất lặp đi lặp lại của một số bài thơ của Elizabeth Barrett về bài thơ này Poe viết: “Tôi chưa bao giờ đọc một bài thơ kết hợp rất nhiều những niềm đam mê dữ dội với rất nhiều tưởng tượng tinh tế nhất như thế”
Âm thanh và Nhịp điệu thể hiện nỗi u sầu của "con Quạ" thể hiện ngay trên ngôn từ được sử dụng. Để đạt được hiệu ứng âm nhạc ấy, Poe sử dụng đặt vần vào những từ trong cùng một hàng (vần bên trong), hoặc những từ ở cuối của một hàng những vần đó với một từ ở cuối của hàng khác (vần kết thúc), sự lặp âm đầu (một hình (của) tiếng nói mà lặp lại một âm thanh phụ âm). Mô hình này sử dụng một âm tiết nhấn mạnh tiếp theo là một âm tiết trọng âm cuối, với tổng cộng mười sáu âm tiết trong mỗi dòng. Dưới đây là một ví dụ (như dòng đầu tiên của bài thơ):
.......ONCE u PON a MID night DREAR y, WHILE i POND ered WEAK and WEAR y
Trong dòng này, các chữ viết hoa đại diện cho âm tiết nhấn mạnh, và các chữ còn lại không có trọng âm. Chú ý rằng dòng này đã mười sáu âm tiết trong tất cả và đáng chú ý là có vần ở bên trong và sự lặp lại phụ âm đầu.
Trong cả bài thơ ta đặc biệt chú ý đến việc gieo vần, có những chữ được lặp lại rất nhiều ở cuối các câu mà tất cả đều mang vần “o” như: door (cánh cửa: 15 câu), more (18 câu),
Dưới đây là nguyên bản tiếng Anh Được đăng ngày 29 tháng 1 năm 1847
Hoàn thành văn bản với chú thích của Michael J. Cummings.
Once upon a midnight dreary, while I pondered, weak and weary
Over many a quaint and curious volume of forgotten lore,
[sử dụng nhiều âm “0” là âm dễ ngân vang và có hiệu quả nhất trong tiếng Anh]
While I nodded, nearly napping, suddenly there came a tapping,...............[example of alliteration] [ví dụ về lặp âm đầu]
As of some one gently rapping, rapping at my chamber door
"'Tis some visitor," I muttered, "tapping at my chamber door-
Only this, and nothing more
Ah, distinctly I remember it was in the bleak December
And each separate dying ember wrought its ghost upon the floor
Eagerly I wished the morrow; vainly I had sought to borrow
From my books surcease of sorrow—sorrow for the lost Lenore
For the rare and radiant maiden whom the angels name Lenore-
Nameless here for evermore.
[Sử dụng nhiều âm “0” và “r” là âm dễ ngân vang và có hiệu quả nhất trong tiếng Anh]
And the silken sad uncertain rustling of each purple curtain.......................[example of alliteration] [ví dụ về sự lặp âm đầu]
Thrilled me—filled me with fantastic terrors never felt before
So that now, to still the beating of my heart, I stood repeating,
"'Tis some visitor entreating entrance at my chamber door
Some late visitor entreating entrance at my chamber door;-
This it is, and nothing more."
Presently my soul grew stronger; hesitating then no longer,
"Sir," said I, "or Madam, truly your forgiveness I implore
But the fact is I was napping, and so gently you came rapping,
And so faintly you came tapping, tapping at my chamber door,
That I scarce was sure I heard you"- here I opened wide the door;-
Darkness there, and nothing more.
[cả khổ thơ dài đều gieo vần “o”]
Deep into that darkness peering, long I stood there wondering, fearing,
Doubting, dreaming dreams no mortals ever dared to dream before;
But the silence was unbroken, and the stillness gave no token,
And the only word there spoken was the whispered word, "Lenore!"
This I whispered, and an echo murmured back the word, "Lenore!"-
Merely this, and nothing more................................................................[Lines 2, 4, 5, and 6 of each stanza rhyme, as here] [dòng 2, 4, 6 đều đặt vần như ở đây]
Back into the chamber turning, all my soul within me burning,
Soon again I heard a tapping somewhat louder than before.
"Surely," said I, "surely that is something at my window lattice
Let me see, then, what thereat is, and this mystery explore
Let my heart be still a moment and this mystery explore;-
'Tis the wind and nothing more."
[Ví dụ về những câu có phần đầu và cuối giống nhau]
Open here I flung the shutter, when, with many a flirt and flutter
In there stepped a stately raven of the saintly days of yore
Not the least obeisance made he; not a minute stopped or stayed he
But, with mien of lord or lady, perched above my chamber door
Perched upon a bust of Pallas just above my chamber door
Perched, and sat, and nothing more
Then this ebony bird beguiling my sad fancy into smiling,
By the grave and stern decorum of the countenance it wore.
"Though thy crest be shorn and shaven, thou," I said, "art sure no craven
Tell me what thy lordly name is on the Night's Plutonian shore!"
Quoth the Raven, "Nevermore
Much I marvelled this ungainly fowl to hear discourse so plainly
Though its answer little meaning- little relevancy bore
For we cannot help agreeing that no living human being
Ever yet was blest with seeing bird above his chamber door-
Bird or beast upon the sculptured bust above his chamber door,
With such name as "Nevermore”
But the raven, sitting lonely on the placid bust, spoke only
That one word, as if his soul in that one word he did outpour.
Nothing further then he uttered- not a feather then he fluttered-
Till I scarcely more than muttered, "other friends have flown before-
On the morrow he will leave me, as my hopes have flown before."
Then the bird said, "Nevermore."
Startled at the stillness broken by reply so aptly spoken,
"Doubtless," said I, "what it utters is its only stock and store
Caught from some unhappy master whom unmerciful Disaster
Followed fast and followed faster till his songs one burden bore-
Till the dirges of his Hope that melancholy burden bore
Of 'Never- nevermore'."
But the Raven still beguiling all my fancy into smiling,
Straight I wheeled a cushioned seat in front of bird, and bust and door;
Then upon the velvet sinking, I betook myself to linking
Fancy unto fancy, thinking what this ominous bird of yore-
What this grim, ungainly, ghastly, gaunt and ominous bird of yore
Meant in croaking "Nevermore."
This I sat engaged in guessing, but no syllable expressing
To the fowl whose fiery eyes now burned into my bosom's core; ................[metaphor comparing the gaze to a fire] phép ẩn dụ so sánh cái nhìn chằm chằm với một lửa
This and more I sat divining, with my head at ease reclining
On the cushion's velvet lining that the lamplight gloated o'er,
But whose velvet violet lining with the lamplight gloating o'er,
She shall press, ah, nevermore
Then methought the air grew denser, perfumed from an unseen cense
Swung by Seraphim whose footfalls tinkled on the tufted floor.
"Wretch," I cried, "thy God hath lent thee- by these angels he hath sent thee [the narrator is referring to himself] [người tường thuật đang tham chiếu tới tự mình]
Respite- respite and nepenthe, from thy memories of Lenore!
Quaff, oh quaff this kind nepenthe and forget this lost Lenore!”
[Lặp từ vựng liên tiếp ở đầu 2 câu]
Quoth the Raven, "Nevermore."
"Prophet!" said I, "thing of evil!- prophet still, if bird or devil!...........................[hiệp vần giữa evil và devil]
Whether Tempter sent, or whether tempest tossed thee here ashore,
[hiệp vần liên tiếp vần e và er ]
Desolate yet all undaunted, on this desert land enchanted-
On this home by horror haunted- tell me truly, I implore-
Is there- is there balm in Gilead?- tell me- tell me, I implore”
Quoth the Raven, "Nevermore."
"Prophet!" said I, "thing of evil- prophet still, if bird or devil!
By that Heaven that bends above us- by that God we both adore-
Tell this soul with sorrow laden if, within the distant Aidenn,
It shall clasp a sainted maiden whom the angels name Lenore-
Clasp a rare and radiant maiden whom the angels name Lenore."
Quoth the Raven, "Nevermore."
"Be that word our sign in parting, bird or fiend," I shrieked, upstarting-
"Get thee back into the tempest and the Night's Plutonian shore!
Leave no black plume as a token of that lie thy soul hath spoken!
Leave my loneliness unbroken!- quit the bust above my door!
Take thy beak from out my heart, and take thy form from off my door!"
Quoth the Raven, "Nevermore."
[Cả khổ thơ gieo vần “o” tạo nên sự kết nối nhịp nhàng giữa các câu]
And the Raven, never flitting, still is sitting, still is sitting
On the pallid bust of Pallas just above my chamber door;
And his eyes have all the seeming of a demon's that is dreaming,
And the lamplight o'er him streaming throws his shadow on the floor;
And my soul from out that shadow that lies floating on the floor
Shall be lifted- nevermore!
[Vần ở khổ này là sự lặp lại của khổ trước đó]

Lưu ý 1 Con quạ tin rằng người kể chuyện là từ bờ biển của sông Styx trong Underworld, các nơi ở của người chết trong thần thoại Hy Lạp. "Plutonian" là một tham chiếu đến Sao Diêm Vương, thần của quỷ.
Lưu ý 2 của người kể chuyện lúc đầu nghĩ của con quạ tên là "Nevermore". Tuy nhiên, sau này ông phát hiện ra rằng: "Nevermore" có nghĩa là anh ta sẽ không bao giờ trở lại thấy người phụ nữ ông yêu.
Về Đầu Trang Go down
http://qh2007xsnv.coolbb.net
 
ÂM NHẠC TRONG THƠ TƯỢNG TRƯNG Edgar Allan Poe THÔNG QUA BÀI THƠ “CON QUẠ” -
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Tìm hiểu về CA trong dòng truyền DVB stream
» Cách khắc phục sự cố trong truyền hình cáp
» Lắp chảo phản sóng,để chảo trong nhà.
» Lấy lại thanh Menu Bar và thanh địa chỉ trong FireFox + Các phím tắt trong FireFox
» Truyền hình giá rẻ "hết thời" trong năm 2015?

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
qh2007xsnv :: HỌC TẬP :: Văn học nước ngoài-
Chuyển đến